World of Warcraft
CHRIS METZEN, MATT BURNS, và ROBERT BROOKSPETER C. LEE
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Chương sáu – Aegwynn và Sargeras

Độ dài 6,207 từ - Lần cập nhật cuối: 2019-10-29 04:58:53

Medivh đã đi suốt một tuần, như đã nói, và đó là một tuần quý giá cho Khadgar. Anh vùi mình trong thư viện, và Moroes phải mang đồ ăn tới cho anh. Nhiều hôm thậm chí anh chẳng còn về phòng mình vào ban đêm mà ngủ ngay trên mớ bàn lớn trong thư viện. Cuối cùng, anh đi tìm kiếm những ảo ảnh.

Thư từ gửi đến anh chẳng hề được trả lời khi anh vùi đầu vào đống tàng thư cổ nhằm tìm câu trả lời về thời gian, ánh sáng, và ma thuật. Báo cáo trước đó của anh đã nhanh chóng được các pháp sư ở Thành Tím phản hồi. Guzbah muốn một bản sao của các bài thơ sử thi về Aegwynn. Quý Bà Delth bảo rằng bà chẳng thể nhận ra quyển sách nào trong số những đầu sách anh gửi cho bà – liệu anh có thể gửi lại, lần này đi kèm với đoạn văn đầu tiên trong đó, để cho bà ta có thể nhận ra được chúng? Và Alonda quả quyết rằng thực sự có loài troll thứ năm, và chắc hẳn Khadgar chưa tìm ra được đúng quái thư. Anh chàng pháp sư rất mừng vì có thể gạt những yêu cầu của họ sang bên để tìm cách chế ngự những ảo ảnh.

Có vẻ như chìa khóa của phép thuật đó là một câu thần chú tiên tri đơn giản, một lời tiên đoán cho phép nhìn thấu những đồ vật biệt lập và ở một vị trí xa xôi. Một cuốn sách về thuật tư tế đã chỉ rõ rằng đó là một câu thần chú thánh thị, nhưng nó cũng có tác dụng với Khadgar giống như với các giáo sĩ. Dù cho thần chú tư tế có tác dụng với khoảng cách, có thể với một chút cải tiến nó có thể tác dụng với cả thời gian. Khadgar luận ra rằng điều này thông thường sẽ không thể khả thi với dòng chảy thời gian tại một vũ trụ xác định và đều đều.

Nhưng có vẻ như ít nhất là bên trong bức tường Karazhan, thời gian như một chiếc đồng hồ cát, và việc phát hiện những mẩu thời gian rời rạc trở nên khả dĩ hơn. Và một khi đã móc nối được với một mẩu thời gian thì sẽ dễ dàng di chuyển từ mẩu này sang mẩu kia.

Nếu những kẻ khác đã thử việc đó bên trong bức tường Tòa Tháp của Medivh, sẽ chẳng thể có manh mối bên trong thư viện, trừ phi nó nằm trong những tàng thư được bảo vệ cẩn mật nhất hoặc khó đọc nhất trên ban công sắt. Kỳ lạ là những ghi chú trong tay Medivh chẳng hề có chút hứng thú nào với các ảo ảnh, chúng đáng phải áp đảo những ghi chú khác của những vị khách khác. Liệu Medivh có giữ những thông tin đó ở một nơi nào khác, hay là ông ấy thực sự hứng thú với những gì bên ngoài bức tường thành hơn những hoạt động bên trong đó?

Chỉnh sửa lại một thần chú cho một hành động mới không đơn giản như việc thay đổi câu cú chỗ này hay biến đổi chuyện động chỗ nọ. Cần phải có một hiểu biết sâu rộng về cách lời tiên tri hoạt động, về thứ nó cho thấy và cả cách làm. Khi thay đổi cử động tay, hoặc việc sử dụng nhang bị loại bỏ, kết quả có thể dẫn tới thất bại hoàn toàn, do nguồn năng lượng bị tiêu tán vô ích. Thỉnh thoảng nguồn năng lượng bị hỗn loạn mất kiểm soát, nhưng thường kết quả duy nhất của một phép thuật thất bại là làm nản lòng bậc phù thủy.

Trong lúc học hỏi, Khadgar khám phá ra rằng nếu phép thuật thất bại nhưng theo kiểu rất đẹp mắt, điều đó cho thấy rằng phép thuật đó đã đạt rất gần đến phép thuật đã định cuối cùng. Ma thuật đang cố khép kẽ hở lại, để hoàn thành công việc, dù cho không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như bậc phù thủy đã định. Dĩ nhiên thỉnh thoảng người sử dụng phép thuật thất bại đó chẳng thể sống sót sau thí nghiệm.

Trong lúc làm việc, Khadgar cứ lo sợ rằng Medivh có thể trở về bất kỳ lúc nào, lướt trở vào thư viện, tìm kiếm một bài thơ sử thi cổ lỗ hay là điển tích nào đó. Liệu anh có nói cho thầy mình về những gì anh đang làm không? Và nếu làm thế, liệu Medivh có khuyến khích anh, hay cấm anh làm tiếp việc đó?

Sau năm ngày, Khadgar cảm thấy anh đã gần hoàn thành việc thực hiện phép thuật. Bộ khung vẫn là của thuật tiên tri, nhưng giờ nó được tăng cường bởi vài yếu tố ngẫu nhiên cho phép nó vươn tới tìm kiếm những điểm gián đoạn tồn tại trong tòa tháp này. Chút mẩu thời gian nằm sai chỗ đó có thể hơi sáng hơn một chút, hơi nóng hơn một chút, hoặc đơn giản chỉ là cũ kĩ hơn một chút với những thứ xung quanh, và như thế nào sẽ thu hút toàn lực của câu thần chú.

Câu thần chú có thể sẽ có khả năng làm cho ảo ảnh đó được ổn định hơn. Nó sẽ tập hợp cả âm thanh và loại bỏ sự sai sót, tập trung chúng lại như thể một người già khum tay quanh tai để lắng nghe. Có thể nó sẽ không có tác dụng với những âm thanh nằm quá xa điểm tập trung, nhưng vẫn có thể gạn được những gì vài cá nhân đang nói để bổ sung cho những gì người thi triển nhìn thấy được.

Buổi tối ngày thứ năm, Khadgar đã hoàn thành tính toán của mình, mọi thứ nằm trong một câu nói đơn giản. Nếu có thứ gì tồi tệ diễn ra, ít nhất Medivh cũng có thể tìm ra chuyện gì đã xảy ra.đủ những dụng cụ phép thuật, bao gồm một chạn hóa chất thơm và thảo dược ma thuật, và một bộ sưu tập những loại đá khá quý được nghiền nhỏ. Ở đó Khadgar thạch anh tím để bày ra một trận đồ ma thuật trong chính thư viện, đặt trên đó những cổ tự từ thạch anh đỏ đầy sức mạnh. Anh xem qua câu thần chú (hầu hết trong đó anh biết được trước khi rời Dalaran) và diễu thử chuyển động (hầu hết chúng được giữ nguyên bản). Khoác bộ áo tế (phần nhiều vì may mắn hơn là tác dụng), anh bước vào giữa trận đồ.

Khadgar ổn định tinh thần và lấy bình tĩnh. Đây không phải là một câu thần chú cần phải tung ra nhanh trong chiến trận, hay là một trò đùa vớ vẩn. Đó thực là một thần chú mạnh mẽ mà nếu được thực hiện tại Thành Tím sẽ kích hoạt báo động của các pháp sư khác và rồi họ sẽ phi tới ngay chỗ anh.

Anh hít một hơi, rồi bắt đầu thi triển.

Trong đầu anh, câu thần chú bắt đầu được tạo thành, một quả cầu năng lượng nóng ấm. Anh có thể cảm thấy nó đông lại bên trong anh, và cầu vồng gợn sóng trên khắp bề mặt. Đây là lõi của câu thần chú, thường sẽ nhanh chóng tỏa ra và thay đổi thế giới thực theo ý của người thi triển.

Khadgar chỉnh sửa quả cầu đó với những thuộc tính anh muốn, để tìm kiếm chút mẩu thời gian đang ám lấy tòa tháp, lựa lọc trong đó, và đem lại một ảo ảnh duy nhất, thứ sẽ tỏa ra ngay trước mặt anh. Ý tưởng đó chìm vào trong quả cầu tưởng tượng trong đầu anh, và rồi quả cầu vận động mạnh với cường độ cao, chỉ chờ được phóng thích theo một phương nào đó.

“Đem lại cho ta một ảo ảnh,” chàng pháp sư nói. “Đem lại cho ta một ảo ảnh của Medivh thời trẻ.”

Với âm thanh của một quả trứng phát nổ, nguồn ma thuật biến mất khỏi tâm trí anh, bay vào thế giới thực để thực hiện công việc. Bỗng có một luồng không khí, và khi Khadgar nhìn quanh, thư viện bắt đầu biến đổi như lần trước, ảo ảnh từ từ di chuyển vào không thời gian của anh.

Chỉ khi không khí bỗng trở nên lạnh đi thì Khadgar mới nhận ra rằng anh đã gọi nhầm ảo ảnh.

Cơn gió lạnh lùa vào thư viện đột ngột như thể có ai đó quên đóng cửa sổ. Làn gió đi từ lạnh chuyển dần thành băng giá, và mặc dù anh biết rằng đó chỉ là ảo giác, Khadgar vẫn ớn lạnh tới tận xương tủy.

Bức tường thư viện biến mất khi ảo ảnh biến ra một màu trắng xóa. Làn gió băng giá xoáy tròn quanh đống sách và bản thảo, để lại một tấm mền tuyết khi nó đi qua, vừa dày vừa cứng. Bàn, giá sách, ghế đều mờ tịt và rồi biến mất sau những bông tuyết dày nặng.

Và Khadgar đang ở trên một sườn đồi, chân ngập dưới tuyết tới tận đầu gối, nhưng chẳng để lại chút dấu vết. Anh giờ là một bóng ma trong ảo ảnh này.

Dù vậy, anh vẫn thở ra khói và chúng cuồn cuộn bay lên khi anh nhìn quanh. Bên phải là một bãi cây, những tán thường xuân đen đúa trĩu nặng dưới cơn bão tuyết. Xa phía tay trái là một vách đá trắng lớn. Khadgar nghĩ rằng đó là một mặt đá trắng, và rồi nhận ra nó là băng, như thể ai đó đã đóng băng một dòng sông và dâng nó lên. Dòng sông băng cao như thể một dãy núi ở Dalaran, và có những hình thù đen đúa nhỏ bé di chuyển bên trên. Chim ưng hoặc là đại bằng, dù có thể chúng phải có kích thước cực lớn nếu chúng thực sự gần vách băng đến như vậy.

Trước mặt anh là một thung lũng, và đang trèo lên thung lũng là một đội quân.

Đội quân đó làm băng tan chảy khi chúng bước qua, để lại những vết bẩn đen phía sau như đường đi của con sên. Những kẻ trong đội quân đó mặc đồ đỏ, đội những mũ trụ có sừng lớn và khoác áo choàng đen cổ cao. Chúng là thợ săn, vì chúng mang theo đủ thứ vũ khí.

Đi đầu đoàn quân, thủ lĩnh của họ mang một cờ hiệu, trên đỉnh cờ hiệu găm một thủ cấp đang nhỏ máu. Khadgar nghĩ rằng đó là một con thú lớn có vảy xanh lục nào đó, nhưng rồi anh bàng hoàng nhận ra đó là một cái đầu rồng.

Anh từng thấy sợ một sinh vật như vậy tại Thành Tím, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ được thấy một cái của một con vừa mới sống cách đây chưa lâu. Ảo ảnh này đã đem anh đi xa đến thế nào rồi?

Đội quân đầy những thứ khổng lồ đang rống lên một thứ có vẻ như là một bài ca hành quân, dù cho rất dễ bị nhầm lẫn với một tràng nguyền rủa hay là tiếng rống khiêu khích. Âm thanh đó rất lộn xộn, như thể chúng được phát ra từ đáy một cái giếng khổng lồ, nhưng ít nhất Khadgar vẫn có thể nghe được.

Khi chúng tới gần, Khadgar nhận ra chúng là gì. Những chiếc mũ trụ lộng lẫy kia thực không phải mũ trụ mà là sừng mọc lên từ chính da thịt chúng. Áo choàng không phải là quần áo mà là những đôi cánh lớn giống dơi nhô ra từ sau lưng. Lớp áo giáp màu đỏ chính là lớp da thịt dày của chúng, lóe sáng từ bên trong và làm tan chảy tuyết.

Chúng là quỷ, những sinh vật trong những bài diễn thuyết của Guzbah và cả những cuốn sách được dấu đi của Korrigan. Những thực thể ghê gớm vượt qua cả loài orc trong sự tàn ác và khát máu. Những thanh kiếm lưỡi rộng cỡ lớn của chúng nhận chìm trong màu đỏ, và giờ Khadgar có thể thấy cơ thể chúng dính đầy máu đông.

Chúng ở đây, dù cho đây là đâu và đang là khi nào, và chúng đang săn rồng.

Có tiếng động sau lưng anh, chỉ như tiếng chân bước trên thảm. Khadgar quay lại, và anh nhận ra rằng anh không hề đơn độc trên mô đất nhìn về phía đoàn quỷ đi săn.

Bà ta bước tới từ sau lưng anh, giả mà bà có nhìn thấy anh thì bà cũng chẳng để tâm chút nào. Cũng như lũ quỷ tỏa ra ám khí khắp nơi, bà ta cũng phát ra nguồn năng lượng của riêng mình. Một thứ sức mạnh chói lòa cuồn cuộn dâng lên khi bà bước trên tuyết. Bà ấy là thực, nhưng đôi ủng da màu trắng của bà chỉ để lại chút dấu vết nhạt nhòa trên nền tuyết.

Bà cao ráo mạnh mẽ và chẳng hề sợ hãi cái đám kinh khủng đang ở dưới thung lũng dưới kia. Quần áo bà trắng tinh khiết như tuyết xung quanh họ, và bà mặc lớp áo trong làm từ những lớp vảy bạc nhỏ. Tấm áo choàng lớn có mũ trùm màu trắng với những đường nét làm từ vải xanh lục bay phấp phới sau lưng bà, và trên cổ là một viên đá màu lục lớn cùng màu với màu mắt bà. Mái tóc vàng đơn giản, cài vòng nguyệt quế bạc, và có vẻ ít bị ảnh hưởng bởi cái giá lạnh hơn cả bóng ma Khadgar.

Nhưng anh đặc biệt chú ý tới đôi mắt của bà – xanh lục như rừng mùa hè, như ngọc lục bảo bóng loáng, như lòng biển sau cơn bão. Khadgar nhận ra đôi mắt đó, có cùng cái nhìn sắc sảo của con trai bà.

Đó là Aegwynn. Mẹ của Medivh, vị pháp sư mạnh mẽ và gần như bất tử tới mức trở thành một huyền thoại.

Khadgar cũng nhận ra anh đang ở đâu, và đây là cuộc chiến của Aegwynn chống lại bầy quỷ, một huyền thoại giờ chỉ còn là những mảnh nhỏ trong một khổ thơ sử thi trên giá sách thư viện.

Khadgar đau nhói khi nhận ra rằng câu thần chú của anh đã nhầm. Medivh đã hỏi về cuộn giấy đó trước khi rời đi, và là lần cuối Khadgar nhìn thấy ông. Liệu câu thần chú đã bị lẫn lộn, chuyển từ một ảo ảnh của chính Medivh thành chính huyền thoại mà ông đang tìm kiếm?

Aegwynn cau mày khi bà nhìn xuống đoàn quỷ săn, chút khoảng cách còn lại giữa hai lông mày của bà cho thấy bà đang tức giận đến nhường nào. Đôi mắt lục bảo lóe sáng, và Khadgar đoán rằng một cơn bão hùng mạnh đang trào dâng trong bà.

Cơn giận đó chẳng phải chờ đợi lâu mới được giải thoát. Bà giơ cánh tay lên, đọc một câu thần chú ngắn gọn, rồi có chớp nhảy múa trên những đầu ngón tay bà.

Đó chẳng phải là một tia chớp bình thường của một pháp sư, thậm chí cũng không phải tia chớp đáng sợ nhất của một cơn giông mùa hè. Đó là một tia chớp siêu nhiên, đánh xuyên qua bầu không khí giá lạnh và giáng xuống đám giáp quỷ đang bất ngờ kia. Bầu không khí bị phân tách thành từng phân tử cấu thành khi tia chớp xuyên qua, gây ra mùi hắc và một tiếng sấm dữ dội thế vào chỗ tia chớp vừa đánh vào. Dù cho biết mình chỉ là một bóng ma, một ảo ảnh, và cả chuyện tiếng ồn đó đã bị chặn lại trong trạng thái bóng ma của mình, Khadgar vẫn giật bắn mình trước ánh chói lòa và sự rung chuyển do tia chớp kỳ bí kia gây ra.

Tia chớp đánh trúng gã cầm cờ, gã mang cái đầu rồng xanh lớn. Nó giết chết con quỷ ngay tại chỗ, còn những tên đứng quanh đó bị hất tung ra, rơi xuống như than đỏ trên nền tuyết. Có tên không thấy đứng dậy nữa.

Nhưng phần lớn đoàn đi săn vẫn nằm ngoài phạm vi tác dụng của câu thần chú, dù vô tình hay cố ý. Lũ quỷ, mỗi tên cao hơn mười lần một con người, giật mình sửng sốt, nhưng chỉ trong phút chốc. Tên lớn nhất trong số đó rống lên một thứ ngôn ngữ nghe như tiếng chuông vỡ, và nửa số quỷ dang cánh bay thẳng tới chỗ Aegwynn (và cả Khadgar). Số còn lại lôi ra những cây cung lớn làm từ gỗ sồi đen và những mũi tên sắt. Những mũi tên được bắn đi bỗng bốc cháy, và một cơn mưa lửa rơi xuống đầu chúng.

Aegwynn chẳng chút nao núng, chỉ khoát một tay. Cả bầu trời giữa bà và cơn mưa lửa phun ra một bức tường lửa xanh, nó nuột gọn những mũi tên màu đỏ cam như thể chúng chỉ chìm vào một dòng sông.

Nhưng những mũi tên chỉ là để che chắn cho những kẻ tấn công, chúng lao qua bức tường lửa xanh khi nó tiêu tan và lao xuống phía Aegwynn. Có ít nhất hai mươi gã, mỗi gã đều khổng lồ, những đôi cánh khổng lồ khiến bầu trời như tối sầm đi.

Khadgar nhìn Aegwynn và thấy bà đang cười. Đó là một nụ cười hiểu biết đầy tự tin, giống như nụ cười của Medivh khi họ đánh lại bọn orc. Bà còn hơn cả là tự tin.

Khadgar nhìn xuống thung lũng nơi lũ cung thủ đứng. Chúng đã vứt những mũi tên lửa vô dụng của chúng và đang tập hợp với nhau, cùng tụng một thứ âm thanh rì rầm trầm trầm. Bầu không khí bị bẻ cong xung quanh chúng, một cái hố xuất hiện giữa thực tại, một màu tối đen vẻ hắc ám hiện trên nền trắng tinh khiết. Từ cái hố đó xuất hiện nhiều con quỷ khác – những sinh vật với đủ thứ hình hài, đầu thú, mắt lửa, cánh dơi và côn trùng hay của những con chim ăn xác chết. Lũ quỷ đó cùng tham gia dàn hợp xướng và kẽ hở kia càng mở rộng to thêm nữa, kéo thêm ngày càng nhiều cư dân ở xứ Hỗn Âm tới vùng đất lạnh lẽo phương bắc.

Aegwynn chẳng hề để tâm tới lũ đang đọc chú và cả lũ viện binh, thay vì đó lại bình tĩnh tập trung vào đám sắp hạ xuống đầu bà.

Bà ngửa bàn tay lên trời. Nửa số đang bay tới bị biến thành thủy tinh, và tất cả đều bị đánh bật khỏi bầu trời. Những kẻ bị biến thành khối pha lê kia vỡ tan khi chúng rơi xuống đất cùng với những âm thanh chói tai. Những kẻ sống sót còn lại hạ cánh xuống đất cái rầm, rồi đứng dậy rút mớ vũ khí dính đầy máu ra. Còn mười tên.

Aegwynn đấm bàn tay trái vào lòng bàn tay phải đang giơ lên, và rồi bốn tên trong số đó tan chảy, da thịt đỏ lòm của chúng chảy khỏi khung xương khi chúng lún xuống nền tuyết. Chúng gào thét cho tới khi cổ họng đang tan rã của chúng bị nhận kín bởi chính da thịt của chúng. Còn sáu tên.

Aegwynn vồ vào khoảng không và thêm ba con quỷ phát nổ trong khi nội tạng chúng biến thành côn trùng và gặm nhấm chúng từ bên trong. Chúng thậm chí còn chẳng có thời gian mà gào thét khi cả cơ thể bị thay thế bởi những bầy muỗi, ong, và ong bắp cày, rồi sau đó chúng tràn về phía khu rừng. Còn ba tên.

Aegwynn tách hai bàn tay ra và tay chân một con quỷ bị tách ra khỏi thân mình bởi những bàn tay vô hình. Còn hai. Aegwynn vẫy hai ngón tay và một con quỷ biến thành cát, tàn dư bị những cơn gió lạnh cuốn đi sạch.

Còn một. Đó là tên chỉ hủy, lớn nhất, và là kẻ gào thét ra mệnh lệnh. Ở khoảng cách gần Khadgar có thể thấy bộ ngực trần của nó là một hình vẽ từ những vết sẹo, và một hố mắt đã trống rỗng. Con mắt kia rực lửa căm thù.

Nó chẳng hề tấn công. Aegwynn cũng vậy. Họ dừng lại, đứng im một lát, trong khi thung lũng dưới kia đang dần đầy những con quỷ.

Cuối cùng con quỷ to lớn gào lên. Giọng của hắn rõ ràng nhưng nghe xa lạ với đôi tai của Khadgar.

“Mày thật ngu ngốc, Kẻ Bảo Hộ Tirisfal à,” nó nói, môi cong lại không mấy thoải mái với thứ ngôn ngữ của con người.

Aegwynn cười lớn, mỏng dính và sắc lẹm như dao thủy tinh. “Thật à, tên súc sinh? Ta đến đây để ngăn cản cuộc săn rồng của các ngươi. Có vẻ như ta đã thành công.”

“Mày là đồ ngu ngốc và tự cao,” con quỷ lèm bèm. “Trong khi mày chỉ chiến đấu với vài kẻ, mấy anh em của tao đã dùng thuật gọi những tên khác tới. Một quân đoàn khác. Tất cả quỷ từ đáng sợ tới tầm thường, cả ác mộng lẫn hắc khuyển, cả chúa tể hắc ám tới thủ lĩnh Quân Đoàn Rực Lửa. Tất cả đều đã tới đây trong khi mày đang chiến đấu chỉ với vài kẻ.”

“Ta biết,” Aegwynn bình thản nói.

“Mày biết à?” con quỷ rống lên với một điệu cười trong họng. “Mày biết rằng mày cô độc trong chốn hoang vu, với tất cả lũ quỷ đứng quanh mày à. Màybiết chắc?”

“Ta biết,” Aegwynn nói, có tiếng cười trong giọng nói. “Ta biết các ngươi sẽ đem tới càng nhiều đồng minh nhất có thể. Một Người Bảo Hộ là một mục tiêu quá lớn cho các ngươi chống lại.”

“Mày biết thật à?” con quỷ lại rống lên. “Vậy mà mày vẫn tới, một mình, tới cái nơi bị bỏ quên này à?”

“Ta biết,” Aegwynn nói. “Nhưng ta chưa từng nói ta chỉ có một mình.”

Aegwynn búng ngon tay và bầu trời chợt trở nên tối đen, như thể một bầy chim khổng lồ hoảng loạn đã che hết mặt trời.

Nhưng đó không phải chim. Chúng là rồng. Nhiều rồng hơn cả những gì Khadgar tưởng tượng ra rằng chúng từng nhiều đến thế. Chúng che phủ mọi nơi bằng những đôi cánh khổng lồ của chúng, chờ đợi tín hiệu của Người Bảo Hộ.

“Lũ súc sinh của Quân Đoàn Rực Lửa,” Aegwynn nói. “Chính các ngươi mới là lũ ngu ngốc.”

Gã quỷ thủ lĩnh gào lên một tiếng và giơ thanh kiếm vấy máu lên. Aegwynn quá nhanh so với hắn, bà giờ một tay lên, ba ngón tay duỗi căng. Bộ ngực đầy sẹo của tên súc sinh bay hơi, chỉ còn lại một đám bụi máu. Hai cánh tay rắn chắc của hắn bay về hai phía, đôi chân còn lại gập xuống đổ sụp, còn cái đầu chỉ còn lại cái vẻ hẳn không gì khác ngoài vẻ ngạc nhiên và choáng váng, rơi xuống nền tuyết đang tan chảy và mất tiêu.

Đó là tín hiệu cho bầy rồng, cùng một lúc chúng lao về phía bầy quỷ đang tụ họp. Những sinh vật bay khổng lồ sà xuống tứ phía, lửa phun ra từ bộ hàm của chúng. Hàng quỷ đầu tiên bị thiêu trụi thành tro chỉ trong tích tắc, trong khi đám còn lại cố rút vũ khí ra, chuẩn bị phép thuật của mình, hoặc cố chạy trốn.

Ở giữa đội quân, một phép thuật được tạo nên, lần này rất mạnh mẽ, với một tiếng gào cực kỳ sôi động. Đó là những tên phù thủy quỷ mạnh mẽ nhất, chúng tập trung năng lượng lại trong khi những kẻ ở phía ngoài quyết tử chống trả lại bầy rồng.

Lũ quỷ tập hợp lại và trả đòn, giờ bầy rồng bắt đầu rơi xuống từ trên trời, cơ thể chúng thủng lỗ chỗ bởi những mũi tên sắt và tên lửa, bởi độc pháp và bởi những cảnh tượng điên cuồng. Dù vậy vòng tròn xung quanh trung tâm lũ quỷ càng ngày càng thu nhỏ lại khi bầy rồng trả thù cuộc săn, và tiếng gào ở trung tâm đang ngày càng mờ nhạt và tuyệt vọng.

Khadgar nhìn Aegwynn, bà vẫn đứng yên trên tuyết, nắm đấm siết chặt, đôi mắt xanh lóe lên đầy sức mạnh, hàm răng nhe ra một điệu cười ghê rợn. Bà cũng đang tạo phép, một thứ rất đen tối và phi thường vượt quá khả năng nhận thức của Khadgar. Bà đang chống lại phép thuật lũ quỷ đang dựng nên, nhưng bà cũng đang hút năng lượng từ đó, buộc thứ sức mạnh thần bí trong đó lại, như lá thép trên thanh kiếm được chập lại để khiến lưỡi kiếm khỏe hơn và hữu dụng hơn.

Tiếng thét của lũ quỷ ở giữa đạt tới đỉnh điểm, và giờ chính Aegwynn đang hét lên, một quầng năng lượng bao bọc quanh bà. Mái tóc buông xõa và tung bay, bà giơ cả hai tay lên và thốt lên lời khấn cuối cùng.

Rồi có ánh sáng lóe lên ở giữa bầy quỷ, ở chính giữa đám phù thủy đang tạo phép, vừa gào rú vừa đọc thần chú. Đó là một vết rách của vũ trụ, lần này là một vết rách sáng ngời, như thể cánh cửa đi tới mặt trời đã được mở ra. Năng lượng cuộn tròn bên ngoài, và lũ quỷ thậm chí còn không có thời gian hét lên khi nó bắt được chúng, thiêu cháy chúng và chỉ để lại cái bóng dư ảnh của chúng.

Tất cả lũ quỷ đã bị bắt, và cả một số con rồng lảng vảng quá gần trung tâm bầy quỷ. Chúng bị bắt như thể bướm đêm bay vào lửa và rồi cũng tan biến.

Aegwynn thở ra một tiếng mệt mỏi và mỉm cười. Đó là nụ cười của loài sói, của loài ăn thịt, của kẻ chiến thắng. Nơi bầy quỷ từng đứng giờ là một cột khói, bay ngút tới tận bầu trời nơi những đám mây lớn.

Nhưng khi Khadgar nhìn, đám mây dần tập hợp lại, trở nên đen hơn và dữ dội hơn, tạo hình một cái đe. Rồi nó to lên gấp đôi, trở nên mạnh mẽ hơn, trung tâm càng trở nên đen hơn, viền chuyển màu tím đen.

Và rồi từ đám mây đen Khadgar nhìn thấy một vị thần xuất hiện.

Đó là một hình thù khổng lồ, lớn hơn tất thảy những người khổng lồ trong truyền thuyết, to lớn bất cứ con rồng nào. Màu da nó trông như được bọc đồng, và nó mặc một bộ giáp đen làm từ đá nung chảy. Bộ râu lớn và mái tóc bờm xờm làm từ những ngọn lửa sống, và cặp sừng khổng lồ nhô lên từ bên trên cặp lông mày rậm. Đôi mắt có màu của Địa Ngục Vô Tận. Nó bước ra khỏi đám mây đen, mặt đất rung chuyển dưới bàn chân của nó. Nó mang một cây giáo khổng lồ chạm trổ những ký tự đang nhỏ những giọt máu bốc cháy, và cái đuôi dài với một quả cầu lửa ở chót đuôi.

Bầy rồng còn lại chạy trốn khỏi chiến trường, hướng về phía cánh rừng đen và những vách đá xa tít. Khadgar chẳng thể trách chúng. Dù với sức mạnh kinh hoàng Medivh đang mang, và với sức mạnh khủng khiếp mẹ ông vừa thể hiện, điều đó vẫn chỉ là hai ngọn nến leo lắt nếu so với sức mạnh đơn thuần của vị chúa quỷ này.

“Sargeras,” Aegwynn rít lên.

“Người Bảo Hộ,” gã quỷ khổng lồ ầm ầm nói, giọng sâu thẳm như biển cả. Từ xa, những vách băng thay vì vọng lại giọng nói ma quỷ đó thì lại sụp đổ.

Người Bảo Hộ đứng thẳng người dậy, vuốt một lọn tóc vàng bay bay ra sau, rồi nói, “Ta đã làm hỏng món đồ chơi của ngươi rồi. Ở đây ngươi xong việc rồi. Chạy ngay đi khi vẫn còn giữ được cái mạng.”

Khadgar nhìn Người Bảo Hộ như thể bà đang mất trí. Kể cả anh cũng nhận ra bà đã kiệt sức sau trận vừa rồi, gần như trống rỗng như Khadgar lúc đấu lại bọn orc. Hẳn gã quỷ khổng lồ này cũng phải thấy điều đó. Những bài thơ sử thi có nói về chiến thắng của Aegwynn. Thay vì đó liệu anh có sắp chứng kiến cái chết của bà không?

Sargeras không cười, giọng hắn lăn khắp tứ phía, thậm chí còn ép xuống đầu Khadgar. “Thời gian của Tirisfal sắp kết thúc rồi,” gã quỷ nói. “Thế giới này rồi sẽ sớm phải cúi chào trước đòn tấn công của Quân Đoàn.”

“Không nếu như còn có một Người Bảo Hộ ở đây,” Aegwynn nói. “Không nếu như ta còn sống, hoặc có ai đó theo bước ta.” Những ngón tay bà hơi cong lại, và Khadgar nhận ra bà đang triệu hồi sức mạnh bên trong mình, tập hợp trí tuệ, ý chí, và năng lượng vào một đòn tấn công vĩ đại. Dù là một bóng ma, Khadgar vẫn lùi một bước, rồi hai bước, rồi ba. Nếu anh lúc già có thể thấy anh trong ảo ảnh, nếu Medivh trẻ có thể thấy anh, liệu hai thực thể hùng mạnh ở đây, pháp sư và quái vật, có thể thấy anh không?

Hay là có lẽ anh quá bé nhỏ để có thể nhận ra?

“Đầu hàng đi,” Sargeras nói. “Ta còn cần sức mạnh của ngươi.”

“Không,” Aegwynn nói, hai tay cong tròn trước mắt.

“Vậy thì chết đi, Người Bảo Hộ, và để thế giới này chết cùng với ngươi,” gã quỷ khổng lồ nói, rồi giương cây giáo với những ký tự chảy máu lên.

Aegwynn giơ cả hai tay lên, thốt lên một tràng, nửa như nguyền rủa, nửa cầu nguyện. Một cầu vồng lửa đủ màu sắc chưa từng thấy trên thế giới này phun ra từ hai bàn tay bà, bay thẳng lên trên như những tia chớp có tri giác.

Khadgar nhìn thấy chúng như thể chỉ là mũi tên bắn vào một con tàu, nhỏ bé và vô dụng. Nhưng Sargeras lại loạng choạng sau đòn tấn công, lùi lại nửa bước và đánh rơi cây giáo khổng lồ. Nó rơi xuống mặt đất như thiên thạch rơi xuống trái đất, và nền tuyết gợn sóng dưới chân Khadgar. Anh khuỵu một chân, nhưng vẫn nhìn gã chúa quỷ.

Khi Aegwynn đã hoàn thành câu thần chú, có một bóng đen lan tỏa ra. Không, không phải bóng đen, mà là một cơn lạnh, da thịt bằng đồng nóng chảy của gã quỷ không lồ chết dần đi và được thay thế bởi những thứ lạnh lẽo trơ lì. Nó tỏa ra từ giữa ngực như thể một đám cháy rừng, để lại những mảng thịt bị thiêu đốt phía sau.

Sargeras nhìn sự phá hủy đó với đầy ngạc nhiên, rồi hoảng hốt, rồi sợ hãi. Gã đưa một tay lên chạm vào nó, và nó lan tới cả bàn tay đó, để lại một khối kim loại đen xù xì trơ lì phía sau. Giờ chính Sargeras đang bắt đầu tạo phép, tập hợp những nguồn năng lượng hắn có để đảo ngược quá trình đó, để cầm vết thương lại, để dập tắt ngọn lửa đó. Những lời của hắn dần trở nên nóng nảy và thống thiết, và phần da chưa bị tác động của hắn run rẩy liên hồi. Gã tỏa sáng như một mặt trời, hét lên lời nguyền rủa khi cơn lạnh lẽo đen tối kia lan tới nơi trái tim hắn có thể ngự trị.

Và rồi có một nguồn sáng khác phát ra, mạnh mẽ như thứ đã hấp thụ bầy quỷ, ở ngay chính giữa Sargeras. Khadgar quay sang nhìn Aegwynn, bà đang nhìn kẻ thù bị ngọn lửa và bóng tối nuốt chửng. Ánh sáng chói lòa làm lu mờ cả ánh ngày, và những cái bóng trải dài phía sau vị pháp sư.

Và rồi khi nó kết thúc. Khadgar nhấp nháy để mắt dần làm quen lại. Anh quay lại nhìn về phía thung lũng và ở đó là gã Sargeras khổng lồ, lờ đờ như một thứ làm từ thép nguội, hết sạch sức mạnh. Bên dưới cơ thể hắn, nền đất bị nung nóng dần nhường chỗ, và cơ thể đã chết của hắn từ từ chìm xuống, vẫn còn nguyên một khối khi chìm nghỉm dưới đất. Không khí quanh họ trở nên tĩnh mịch.

Aegwynn cười lớn. Khadgar nhìn bà, bà trông kiệt quệ, cả bởi kiệt sức lẫn điên khùng. Bà xoa hai bàn tay và cười khoái trá, rồi đi xuống về nơi gã khổng lồ ngã xuống. Khadgar nhận ra rằng bà không còn lướt nhẹ trên mặt đất nữa, mà giờ phải ì ạch lê xuống đồi.

Khi bà đi xa khỏi anh, thư viện bắt đầu quay lại. Tuyết bắt đầu bay hơi thành những đám hơi nước dày, và bóng của giá sách, phòng trên, những cái ghế, từ từ hiện ra.

Khadgar khẽ quay người, trở lại nơi cái bàn sắp hiện lại, và rồi mọi thứ trở lại bình thường. Thư viện tái hiện lại một cách khá bất thình lình.

Khadgar thở một hơi lạnh lẽo và xoa da. Mát, nhưng không lạnh. Câu thần chú đã phát huy tác dụng, không hoàn toàn chính xác nhưng về cơ bản đã thành công. Nó đã gọi lên một ảo ảnh, nhưng không phải cái mong muốn. Câu hỏi là thứ gì đã nhầm lẫn, và cách xử lý tốt nhất là gì.

Anh chàng pháp sư với túi bản thảo của mình, rút ra một tấm giấy da mới và những công cụ. Anh gắn ngòi thép vào đầu cây bút, nung chảy ít mực bạch tuộc trong bát, và nhanh chóng ghi chép mọi thứ vừa xảy ra, anh tạo ra phép thuật ban đầu như thế nào, rồi chuyện Aegwynn lún sâu xuống tuyết khi bà bước đi.

Anh làm việc tới tận một tiếng sau khi có tiếng ho mệt mỏi phát ra từ phía cửa. Khadgar đắm chìm trong suy nghĩ tới mức anh không hề nhận ra tới khi Moroes ho lần thứ hai.

Khadgar nhìn lên, vẻ hơi cáu. Có một thứ quan trọng anh chuẩn bị viết, nhưng nó cứ tránh né anh. Có thứ gì đó đang nằm ngay tại khóe mắt trong tâm trí anh.

“Ngài Pháp Sư đã trở về,” Moroes nói. “Muốn anh tới lầu canh.”

Khadgar ngây ra nhìn Moroes trong một chốc, trước khi tâm trí kịp ghi nhận những lời nói đó. “Ngài Medivh về rồi ư?” cuối cùng anh nói.

“Đó là những gì tôi vừa nói,” Moroes rên rỉ, từng từ nói ra một cách miễn cưỡng. “Anh sẽ bay tới Bạo Phong với ngài ấy.”

“Bạo Phong ư? Tôi ư? Tại sao?” anh chàng pháp sư nói.

“Anh là học trò mà, đó là lý do,” Moroes cau có. “Tháp canh, tầng trên cùng. Tôi đã gọi lũ bằng sư rồi.”

Khadgar nhìn thành quả của mihf – những hàng chữ viết tay gọn gàng, đào bới tới từng chi tiết. Có một thứ gì đó nữa mà anh đang nghĩ đến. Thay vì đó anh nói, “Vâng. Vâng. Để tôi dọn dẹp mọi thứ đã. Làm nốt việc này.”

“Cứ từ từ mà làm,” ông quản gia nói. “Chỉ là Ngài Pháp Sư muốn anh bay cùng ngài ấy tới Thành Bạo Phong mà thôi. Không có gì quan trọng đâu.” Và Moroes biến mất vào hành lang. “Tầng trên cùng,” giọng ông ta vọng lại để nhắc nhở.

Thành Bạo Phong! Khadgar nghĩ, lâu đài của Vua Llane. Có việc gì quan trọng để khiến anh phải tới đấy? Có lẽ để báo cáo chuyện lũ orc chăng?

Khadgar nhìn bản viết tay của mình. Cùng với tin tức Medivh đã trở lại, và rằng họ sắp phải đi, suy nghĩ của anh đã bị rối loạn, và giờ trí óc đang nghĩ đến một việc khác. Anh nhìn những từ cuối cùng anh viết trên bản giấy da.

Nó viết Aegwynn có hai cái bóng.

Khadgar lắc đầu. Dòng suy nghĩ nào anh đang theo đuổi cũng đã biến mất. Anh cẩn thận thấm mực thừa để nó không bị vấy bẩn, và cất mớ giấy đi. Rồi anh thu dọn đống dụng cụ, và nhanh chóng rời khỏi phòng. Anh phải thay bộ đồ đi đường nếu định cưỡi bằng sư, và còn phải mang một tấm áo choàng phù thủy đẹp đẽ nếu sắp phải gặp cả hoàng gia.

Bình luận (0)Facebook