Danshi Koukousei de Urekko Light Novel Sakka wo Shiteiru keredo, Toshishita no Classmate de Seiyuu no Onnanoko ni Kubi wo Shimerareteiru.
Tập 02
Chương 01-part 3
Lần cập nhật cuối: 2018-10-31 23:29:58

Trans:Poro

Edit:Ngoe Nguẩy

Mọi góp ý xin vui lòng ib page hoặc cmt ở dưới nhé

Links page:https://www.facebook.com/AsiaTranslationTeam/

=====================================================

Lần đầu tái bản tập một của ‘Vice Versa’, số lượng được in ra lên tới 3.000 bản.

Vào một ngày của tháng Tám, đó cũng là ngày diễn ra lễ hội obon.

Mẹ tôi đang làm công việc y tá và dường như chẳng có ngày nghỉ nào trong suốt lễ hội obon cũng như dịp cuối năm. Tôi luôn ở nhà một mình, viết lách vài thứ gì đó trong những ngày nghỉ học.

Và đột nhiên biên tập viên gọi tôi.

“Em sẽ có lần in thứ hai cho cuốn sách của mình ! Chúc mừng em !”

‘Lần in thứ hai’ thật ra chính là tái bản.

Việc tái bản này không biết được xem là nhanh hay chậm, tôi không rõ.

“Cảm ơn anh đã báo tin cho em !”

Tất cả thứ tôi cảm thấy bây giờ là sự lâng lâng vui sướng (sau đấy, biên tập viên bảo tôi rằng cũng có những tác phẩm được tái bản sớm hơn nữa cơ nhưng sách của tôi vậy là nhanh rồi).

Và trong lúc tôi bộc lộ niềm hân hoan của mình ra mặt,

“Nếu có ‘phần đánh máy nào cần chỉnh sửa’, hãy gọi anh ngày mai nhé, hạn chót đấy.”

Biên tập viên nhắc.

Và thế tôi hỏi,

“Erm? Là sao ?”

Lỗi đánh máy—

“Mặc dù nó có thể làm em mất một chút trong thu nhập, nhưng hãy nhìn kĩ cái lỗi này, anh nghĩ đây là lúc thích hợp để xem xét... Anh giải thích xíu được không ?”

“Tất nhiên. Em nghe đây.”

Lỗi đánh máy là lỗi liên quan tới ‘từ ghép’.

Nói cách khác, nếu có bất kì lỗi của nhân viên đánh máy (người mà sắp xếp thứ tự và trau chuốt câu từ), tôi phải kiểm tra và sửa cho họ.

Tất nhiên, những nhân viên ngày nay không sử dụng cách in ấn di động. Vì thế, ở trường hợp hiện nay, những kẻ dịch sai là liên quan tới ‘các từ sai’. Như tôi đã nói.

Tuần trước, khi đã đề cập việc này dưới danh nghĩa tác giả, tôi phải kiểm tra qua toàn bộ những gì tôi viết, và đưa tận tay cho các biên tập kiểm tra kĩ càng, và tôi còn phải kiểm tra thêm một lần nữa.

Nhưng đến như thế rồi thì vẫn có lỗi.

Về cơ bản, đó là lỗi của tôi (nhưng không ai nhận ra).

Hiếm khi các biên tập viên mắc lỗi này (và không ai nhận ra nó). Lỗi đó được phân loại là lỗi chính tả ở trong trang khái quát nội dung và tóm tắt cốt truyện.

“Lỗi chính tả thường không được nhìn thấy bởi vài người mà chỉ nhìn thấy bởi số lượng lớn độc giả -- lỗi này sẽ được chỉnh sửa ngay trong lần tái bản đầu tiên. Vì thế, biên tập viên của tôi nói rằng một khi lần tái bản được quyết định, tôi phải nhanh chóng tìm và gửi cho họ những lỗi sai ấy. Bởi vì nhà xuất bản muốn sớm phát hành sách tái bản để tránh tình trạng hàng tồn kho và lỡ đi cơ hội kiếm lời.”

“Em thấy... bây giờ em biết việc chỉnh sửa lỗi trong sách là một trường hợp như thế.”

Nitadori trông có vẻ ấn tượng trong khi cô nàng gật đầu. Tôi cũng chỉ biết một điều như vậy hồi đó thôi.

“Sau vụ này, anh cảm thấy sao, sensei ?”

“Tôi cảm thấy rất vui về tác phẩm của mình được ra mắt lần đầu, tôi đã đọc lại tập một lần nữa để tôi có thể tiếp tục nối mạch truyện ở tập hai, nhưng tôi không thấy bất kì lỗi chính tả nào. Bởi vậy, tôi quyết định kiểm tra kĩ từng câu chữ---”

“Vẫn không có ?”

“Tôi đã thấy 5 trường hợp sai...”

Trong khi lần đầu tập một ‘Vice Versa’ được phát hành, tôi đã thấy 5 lỗi khác nhau.

Một trường hợp khi tôi quên một dấu chấm.

Có một lần khi từ dạng chữ furigana của từ ‘hem’, suso, được viết thay thế là ‘sode’.

Ema, thường tự xưng ‘watashi’ trong chữ hiragana, và trong chữ kanji, cô cũng thường tự xưng là ‘watashi’ ở một số phần nhất định.

Cũng có chữ được dự đoán sẽ viết và mang nghĩ ‘chinh phục thế giới’, (seifuku), nhưng cuối cùng là hiểu nhầm thành sang ‘đồng phục trường học thế giới’ (seifuku) (hiện tượng đồng âm trong tiếng Nhật).

Và có một lần, sự xuất hiện của cả Shin và Sin hoàn toàn bị đảo lộn.

“Về cái lỗi cuối cùng... tôi tự nghĩ rằng ‘tôi không thể phạm sai lầm bất kể cái gì’... bởi vậy khi tôi tìm ra lỗi sai, tôi thật sự thấy thất vọng.”

Tên của Shin và Sin khá tựa tựa nhau, những sai lầm về hai cái tên này là rất phổ biến trong việc thay đổi văn bản. Nói về điều đó, nó thật sự khó chịu để phải thay đổi văn bản.

Khi tôi phát hiện ra lỗi đó, tôi bắt đầu kích hoạt chức năng ‘ghi lại các kí tự trong tiếng Nhất ở từ điển’. Nếu tôi đánh máy chữ hiragana ‘shi’ (し), nó sẽ trở thành ‘Sin’ (シン). Nói cách khác,

しんはいつた。

Đổi thành→ Shin nói.

しはいつた。

Đổi thành→ Sin nói.

しんはしのむなぐらをつかんだが、しは、だまつてしんをにらみかえすだけだつた。

Đổi thành→ Shin nắm lấy cổ áo của Sin, nhưng Sin chỉ nhìn Shin một cách yên lặng.

Đó không phải là lỗi duy nhất đối với ‘Vice Versa’. Bản in đầu tiên của bất cứ tác phẩm nào luôn được dự đoán sẽ có một vài lỗi chính tả như vậy. Cũng có thể mọi người muốn mua bản in đầu tiên của những tác phẩm nổi tiếng cũng vì những thứ nhỏ nhặt như thế.

Mặc cho là thế, tôi vẫn muốn viết một câu chuyện hạn chế ít lỗi nhất có thể, và bản in đầu tiên luôn khiến tôi lo lắng.

Tập 8 vừa mới cho ra mắt, tôi đã cố gắng hết sức để kiểm tra—nhưng khi nó chính thức xuất hiện trên thị trường, tôi lại tìm ra thêm vài lỗi.

“Nhưng tôi không bao giờ có thể sai chính tả nhiều tới mức trở thành huyền thoại như vậy.”

“‘Mức độ huyền thoại’? Có cả mức độ sai chính tả như thế ạ ?”

Nitadori hỏi tôi một cách bất ngờ.

“Yeah. Có khá nhiều lỗi đánh máy sai kinh điển trong lịch sử đấy.”

Tôi thật lòng trả lời.

“Nh-như nào ạ ?”

Tôi lại nghĩ chúng ta nên dừng chủ đề này lần nữa—

Nhưng tôi lại khá thích chủ đề về lỗi chính tả, nên tôi tiếp tục nói về nó. Vẫn còn thời gian trước khi tới ga cuối mà.

Lịch sử của ngành xuất bản có thể nói liên quan tới lịch sử của lỗi chính tả không một chút nghi ngờ. Tôi vẫn còn khá yếu, và bây giờ, tôi vẫn phải làm việc chăm chỉ để thay đổi lịch sử.

Trong số chúng, có một lỗi đánh máy rất quen và dễ thấy trong Kinh Thánh, hay được gọi là 'Adulterous Bible'.

Trong Kinh Thánh, một dòng ở trong ‘Mười điều răn dạy của Moses’ là ‘con người không được phạm lỗi dâm dục’, nhưng lỗi đánh máy lại bỏ sót đi từ ‘không’ và thế là câu răn dạy của chúng ta đã mang một nghĩa tiêu cực khác.

Nói cách khác, nghĩa của câu đổi thành ‘con người nên chấp nhận việc ngoại tình’.

Tôi đoán lỗi đánh máy càng ngày trở nên ngu ngốc trong lịch sử con người—

Tôi cho là chúng ta không nên phạm phải lỗi này nữa.

"..."

Nitadori nghe tôi nói và mở to mắt, đôi môi cô nàng khẽ hé mở. Nói cách khác, cô ấy có vẻ hoàn toàn choáng.

Cô nàng đang hoài nghi tại sao những thứ này có thể xảy ra trên thế giới cơ chứ, nhưng sự thật nó đã xảy ra rồi, và tôi không thể làm gì để sửa chữa nó.

Cũng có xuất hiện lỗi đánh máy huyền thoại được ghi nhận trong lịch sử Nhật Bản.

Đó là do một vài lỗi, nhưng tên lỗi đã có lẽ được thay đổi mãi mãi.

Tất nhiên, những lỗi đó được gọi là con gián (Gokiburi).

Có người nói rằng tên của lỗi đó thật ra là ‘Gokikaburi’, nhưng trong bộ sách giáo khoa sinh học được xuất bản vào thế kỉ 17 của Meiji Era lại chép là ‘Gokiburi’.

Quyển sách đó chỉ có đúng một lần xuất bản bởi nó không có một lỗi sai nào. Những quyển sách sau này đều dựa theo quyển sách ấy, và từ ‘gokiburi’ trở nên phổ biến, trước khi nó được xem là một từ chính thức trong từ điển.

“Hey... Em không nghĩ nó là như vậy, này... anh đang xạo phải không ? Câu chuyện này là do anh tự tạo ra đúng chứ?”

Nitadori nhìn tôi hoài nghi qua cặp kính.

“Tôi không có bịa đâu.”

Tôi xua xua tay trong khi trả lời.

“Thôi, để vấn đề này qua một bên đi nào--”

Tôi sử dụng cả hai tay để di chuyển đồ đạc từ đùi tôi ra ngoài cửa sổ, đồng thời kết thúc các chủ đề về lỗi chính tả.

“Kết thúc chủ đề chính tả nhé, quay lại chủ đề cũ—chính xác thì tôi đã dừng ở đâu vậy ?”

Bởi vì quá nhiều chủ đề ngoài luồng nên tôi không nhớ chủ đề cũ tôi đã dừng ở đâu.

“Về 27.000 bản in đầu tiên của tập một ‘Vice Versa’ ấy, và 3.000 bản ngay sau... lần in đầu, anh ơi!”

Nitadori nhắc tôi.

“Vice Versa’ thật sự bán chạy.

Ngay khi tập thứ hai được xuất bản vào tháng Mười, tập đầu tiên đã được tái bản 3 lần, và tổng danh thu tới trên 40.000.

Lần in đầu tiên của tập thứ hai là 27.000 bản in như trước. Tôi nghe nói như thế là tuyệt rồi khi số lượng bản in bằng với lần in của tập trước. Tất nhiên, tập hai được tái bản ngay trong tháng nó được bán. Và bản in đầu tiên thì vẫn liên tục tái bản sau đó.

Ngay khi tháng Mười Một bước qua, tổng số bản in được phát hành, bao gồm cả tập một và tập hai, là 80.000 quyển.

Và như thế, tới cuối năm, số tiền nhuận bút mà tôi nhận được trong tài khoản ngân hàng—

Lên tới 4 triệu Yên.

“4 triệu Yên... thật quá tưởng tượng...”

Nitadori mở to mắt khi cô nàng thốt lên. Tôi có lẽ cũng không khác cô ấy về việc bất ngờ với số tiền trên, có khi còn bất ngờ hơn ấy chứ.

“Tôi chưa từng mơ rằng tác phẩm của mình có thể bán chạy tới như vậy, nó đem lại cho tôi rất rất nhiều tiền...”

Không phải khoe khoang đâu, mà đây là suy nghĩ thật của tôi.

Tôi xấu hổ khi nói điều này ra, nhưng khi tập một được phát hành, tôi đã từng dự đoán doanh số của nó, nghĩ về việc nó sẽ xảy ra.

Tôi đã giả sử rằng nhuận bút của tập đầu tiên là 1.500.000 Yên, và lần in đầu của tập thứ hai sẽ bị giảm bớt số lượng, tôi tính được ra con số 1.000.000 Yên. Và như thế tôi sẽ kiếm được 2,5 triệu Yên trong năm, đối với tôi, như thế cũng là lớn rồi.

“Nhưng anh đã không ngờ anh tính sai, đúng không ?”

Nitadori nở một nụ cười tinh nghịch. Tôi đã quen với nó nhưng vẫn bất ngờ.

“C-Chắc thế...”

Nếu tôi có tổng cộng 4 triệu Yên tiền mặt trong tay, tôi thật sự rất sợ ấy. May thay, số tiền đó được cất ở trong tài khoản ngân hàng. Thật sự mà nói nếu một đống tiền mặt xuất hiện trước mặt tôi, tôi nghĩ tôi sẽ mất nó rất dễ...

“Tất nhiên tôi rất sợ, rất sợ... phải sử dụng số tiền lớn đến thế. Cứ cho đó là niềm vui đi, nhưng niềm vui đó đi đôi với nỗi bất an. Tôi có số tiền lớn đó nhưng tôi luôn phải tự nhắc nhở không được chi tiêu nó quá trớn.”

“Thật ra, anh chưa từng sử dụng số tiền đó, đúng không ? Sau khi trừ thuế, anh thực tế đã luôn giữ số tiền đó nguyên vẹn.”

“Thật lòng mà nói, tôi không cần phải tiêu xài nhiều nào.”

“Hey, nếu anh có thể, kể em nghe được chứ, sensei, mẹ anh đã nghĩ gì khi biết anh kiếm ra số tiền đó. Well... mẹ anh có nói gì không ?”

Well, tôi đoán tôi có thể trả lời câu hỏi này, bởi thế tôi đáp.

“Mẹ tôi chỉ nói với tôi hai điều.”

“Là gì ạ ?”

“Đầu tiên, ‘dùng số tiền đó cho bản thân đi’. Nói cách khác, tôi không cần thiết phải lo nghĩ về việc thuê nhà, mua thức ăn, và phí gia đình

“Vậy ra anh vẫn chưa được sống tự lập à ? Em nghĩ em hiểu điều đó. Nuôi nấng con cái là nghĩa vụ của bố mẹ mà.”

“Hm, chắc thế...”

Về điều này, tôi đoán nó sẽ thay đổi một ít trong tương lai—nên tôi đoán không sẽ không tệ nếu nói về điều đó bây giờ.

“Và điều còn lại?”

“Hm—‘đừng tiêu xài tiền như nước!’”

“Ahaha, đương nhiên ai cũng sẽ nói thế.”

“Yep. Vì thế, tôi nghĩ tôi sẽ đặt ra vài luật lệ, in nó ra và dán trước bàn học của mình.”

“Thật? Thế anh đặt ra luật gì?”

Chúng không quá phức tạp đâu.

‘Tôi có thể mua những vật dụng cơ bản cho công việc (văn phòng phẩm, vật liệu)’

‘Trước khi mua, tôi phải cân nhắc. Không mua một cách bốc đồng. Phải kiểm tra giá trước khi mua.’

‘Phải tiết kiệm để không phải lo nghĩ về tương lai.’

‘Không mang quá nhiều tiền mặt bên mình.’

‘Không khoe của chứng tỏ mình có nhiều tiền.’

Điển hình là như thế thôi.

‘Em thấy. Tự kỉ luật bản thân. Anh thật là ấn tượng đấy.”

“Dù là vậy, anh vẫn đã mua nhiều thứ không cần thiết.”

Tôi khoe khoang cái đồng hồ đang đeo ở cổ tay với Nitadori.

“Cái đồng hồ này được tôi mua vào số tiền nhuận bút đầu tiên tôi nhận được từ ‘Vice Versa’. Vào tháng Mười, đúng cái năm tôi ra mắt độc giả tác phẩm đầu, tôi đã nghĩ sẽ mua cái đồng hồ này trên đường trở về nhà từ ban biên tập, và tôi đã tiêu mất 30.000 Yên.”

Tôi đoán cái đồng hồ 30.000 Yên (30.000 Yên = 6256018.74 VNĐ) có vẻ khá rẻ nhỉ.

Nhưng tôi vẫn mang cái đồng hồ tôi có được từ thời học Trung học cơ sở, và nó chỉ có giá 3.000 Yên. Đúng là cái giá của đồng hồ cũ chỉ bằng 1/10 giá của cái mới. Có một điều đáng nói, cái khung đeo của đồng hồ cũ dần như hỏng rồi, tôi sợ sẽ rơi mất nó một lúc nào đó, bởi thế tôi xem nó như một cái đồng hồ bỏ túi trong phòng tắm hơn.

“Không quan trọng cái đồng hồ tôi có trong tương lai mắc thế nào, tôi cũng sẽ giữ lại cái đồng hồ cũ. Thậm chí nếu nó có hư và không thể sửa chữa chăng nữa, tôi vẫn sẽ để nó trong phòng.”

“Như cái khăn quàng cổ của Mitsuka...”

Nitadori nhắc lại chi tiết đó với một sự thích thú. Yep, đúng mà, tôi thấy nó có liên quan với nhau.

Shin rất trân trọng cái khăn quàng cổ Mitsuka đưa cho anh ở tập một, và luôn mang nó trên cổ mỗi khi trời trở gió.

“Bên cạnh đó, tôi cũng mua một cái máy tính xách tay nhỏ mà tôi đã nhắc trước đó.”

Tôi chỉ vào cái giá bên cạnh tôi.

Cặp của tôi thực tế dùng chứa đồ nghề. Sự thật, cái cặp này tôi dùng để đựng những thứ tôi mua bằng tiền nhuận bút.

“Ngoài ra, cũng có điều, mặc dù mẹ là người trả cho tôi.”

Tôi lấy chiếc điện thoại tôi dùng cho việc tính toán ban nãy từ túi ra.

“Biên tập viên bảo tôi ‘Anh không thể ép em, nhưng sẽ tốt hơn nếu em có một chiếc điện thoại riêng. Anh nhắc lại anh không ép buộc, nhưng tốt hơn vẫn nên thế.”

“Anh lặp lại câu nói tới hai lần kìa!”

“Well, khi tôi phải ở một đêm trong khách sạn tại Tokyo, đó là lúc tôi nghĩ có điện thoại sẽ tốt hơn... khi đó tôi đang học năm nhất Cao trung, tôi phải tới Tokyo vì những buổi họp, và tôi cảm thấy điện thoại là cần thiết, bởi thế tôi mua một cái. Cái điện thoại đầu tiên của tôi là cái hiện đại nhất lúc đó. Tôi ngại phải nói ra giá tiền, nhưng với nó, tôi có thể dò bản đồ, kiểm tra thông tin, kết nối với internet và laptop. Nó thật sự rất hữu dụng.”

Tôi hào hứng kể về chiếc điện thoại đầu tiên tôi có được ở năm nhất Cao trung.

“Well, nhưng tôi chưa thực sự nghĩ sẽ mua một chiếc điện thoại trước đó.”

Đấy là sự thật.

Nhưng mẹ lại muốn mua cho tôi một cái khi tôi vào Cao trung. Thật lòng mà nói, tôi chưa thật sự muốn có một chiếc điện thoại bởi vì—

“Cơ bản mà nói, tôi chưa cần điện thoại tới mức đó. Tôi không có bạn bè nào để mà gọi điện, và laptop đã có thể kết kết nối internet rồi thì điện thoại chỉ để nghe gọi mà thôi !”

Tôi bộc bạch hết lòng mình.

“Ahaha...”

Nhưng tới đây, Nitadori bật cười.

“Tới giờ, anh vẫn dùng điện thoại thông minh cho nghe, gọi, nhắn tin ?”

Tôi liếc mắt nhìn chiếc điện thoại trên tay và trả lời.

“Thì đó. Những số điện thoại cần gọi ngày càng nhiều mà.”

“Ai vậy anh ?”

“Ngoài mẹ tôi ra, thì còn những người liên quan tới công việc.”

“Anh là học sinh Cao trung mà!”

Nitadori vui vẻ nói.

Tôi cũng nghĩ nó không được bình thường, nhưng tôi không quan tâm. Điều tôi quan tâm nhất là nó lưu được nhiều số điện thoại tôi cần gọi, những thứ khác có hay không, không quan trọng.

“Vậy, em có phải là người ‘liên quan tới công việc’ đối với anh ?”

Nitadori hỏi, tôi gật đầu đáp.

“Tất nhiên là có.”

Dù thế nào thì, cô nàng cũng lồng tiếng cho Mitsuka mà.

Không như tiểu thuyết, một bộ anime để hoàn thành cần sự cố gắng tập thể. Họ là những người giúp đỡ nhau trong những công việc quan trọng, và nói cách chắc chắn dễ hiểu, họ là ‘cộng sự’.

“Sau đó--”

Nitadori cất lời.

“Đó là vì sao--”

Nhưng nó bị tôi ngắt lời.

“Ah, anh cứ nói đi.”

Nitadori nhường tôi nói trước, nhưng tôi lại cảm thấy hơi xấu hổ để tiếp tục.

Thậm chí như vậy, cũng khó để nói ra thành lời khi Nitadori cứ nhìn chằm chằm vào mặt tôi như vậy. Vì vậy, tôi chỉ có thể nhìn thẳng vào lưng ghế thì mới có thể nói ra suy nghĩ của mình.

“Tôi thật sự rất muốn cảm ơn tới đội ngũ sản xuất bộ anime này cũng như những seiyuu lồng tiếng cho nhân vật tiểu thuyết của tôi.”

“...”

“Miễn là trong khả năng, tôi sẽ giúp đỡ họ hết sức.”

“...”

“Nếu mọi người trong đội ngũ sản xuất cảm thấy vui sướng thì đó cũng là niềm vui của tôi.”

Vừa nhìn vu vơ sang phía bên phải tôi vừa nói ra những điều muốn nói.

“...”

Gì vậy kìa ?

Nitadori thoáng có vẻ đơn độc.

Tôi không biết tại sao, nhưng có lẽ chủ đề này là không thích hợp.

Tôi nhét cái điện thoại vào lại trong túi quần.

“Chủ đề khi nãy tôi đã dừng ở đâu nhỉ...?”

Dừng chủ đề này thôi, tôi cố gắng kéo chúng tôi trở về chủ đề chính trước đó.

“Được rồi! Trước đó chúng mình đang nói về thu nhập, và chúng mình sắp sửa nói về ‘báo cáo thuế’.”

Khi tôi nói tới đây, Nitadori giơ ngón tay trỏ lên, và tôi bảo Tôi biết !

“Em nghĩ em đã nghe về nó! Có thuế xanh, thuế đỏ và tương tự thế.”

“Đúng—nhưng chúng thật ra không thuế đỏ. Chỉ có thuế xanh và thuế trắng thôi.”

“Vậy ? Như vậy ạ ? Em đã nghĩ sẽ có thuế đỏ khi phát hiện thâm hụt ngân sách chứ ?”

Nitadori trông có vẻ hơi nghiêm trọng hóa vấn đề khi nói việc này.

Tôi không biết liệu cô nàng đang nghĩ đó thật sự là một lỗi lầm hay chỉ là đang đùa giỡn thôi.

Nói cách khác, tôi không biết đó là một điềm xấu hay là một dấu hiệu—

Tôi nghĩ tôi không nên nhận xét thẳng thắn với Nitadori.

Tôi tiếp tục phần giải thích.

“Tôi đã kiếm được 4 triệu tiền nhuận bút trong năm đầu sáng tác, và tôi đương nhiên phải đóng thuế vào tháng Hai hoặc tháng Ba sang năm.”

“Em có nghe về thời gian đóng thuế, nhưng điển hình thì, em cần làm gì ? Nói về điều này, nó có nghĩa là sao ?”

“Cụ thể là, nó có nghĩa ‘xác định thu nhập của bạn và báo cáo nó cho quốc gia’.”

“Em hiểu rồi, vậy ra đóng thuế... nhưng mục đích cho việc đó là gì ?”

“Có hai câu trả lời cho điều này. Trước nhất cần hỏi, tại sao quốc gia cần người dân đóng thuế, và tại sao tôi cần đóng thuế.”

“Vâng... hãy nói về phần của quốc gia trước ạ.”

“Đó là vì quốc gia cần số tiền thuế. Nếu người dân không khai báo thuế trung thực, nhà nước sẽ không phải biết khấu trừ đi bao nhiêu và sẽ cần phải thu thuế bao nhiêu cho hợp lí.”

“Em hiểu rồi... ra là vậy, thế còn anh thì sao, sensei ?”

“Để được giảm thuế.”

“Hm ?”

Tôi chưa giải thích về nó lúc trước. Bao hàm luôn cả kì hạn, thuế thu nhập nghĩa là thứ gì liên quan tới ‘thu nhập’.

Khoản thu nhập thì sẽ liên quan tới tiền (‘tiền lợi nhuận’) được khấu trừ đi bởi nhiều phí liên quan (‘chi phí’)

“Tôi đã đề cập rằng nhà xuất bản sẽ trừ đi thuế thu nhập trước khi tôi nhận được số tiền, đúng không ?”

“Yep.”

“Nó được trực tiếp trừ đi từ doanh số bán ra, và không liên quan gì tới chi phí cả.”

“Ah, em hiểu rồi...”

“Vì thế, tôi sẽ báo cáo với Nhà nước rằng ‘tôi đã đóng thuế đầy đủ, vì thế đây là thu nhập thật sự của tôi, và tôi đã bị trừ đi thuế rất nhiều rồi’, và đòi hỏi Nhà nước sẽ trả lại cho tôi ít thuế thu nhập tôi đã đóng. Well, đây là lí do tôi phải báo cáo thuế.”

“Em hiểu rồi... vậy, chi phí của anh bao gồm những gì ?”

“Đầu tiên, đó là chi phí cho những vật dụng cần thiết cho việc sáng tác. Sau đấy, nó sẽ là bút mực và giấy, nhưng bây giờ, tôi cần nhất là máy tính và máy in cùng một vài thứ đi kèm.”

“Và chi phí còn lại gồm gì ạ ?”

“Tôi nghĩ thứ đáng quan tâm đó là thông tin, giá một cuốn sách. Phim ảnh cũng cần quan tâm tới thông tin nữa, vì thế tôi luôn tính bao gồm cả giá DVD. Nếu tôi muốn thứ gì đó thật sự để kham khảo cho công việc, đó cũng sẽ là thông tin (tri thức) luôn . Như vậy... đó là phí cho điện thoại và internet, phí di chuyển tàu xe quãng đường đi và về từ ban biên tập, và nếu có phí đi đây đi đó cho việc thu thập tài liệu--”

Tôi bộc lộ các quan điểm của mình, và Nitadori tiếp tục gật gù đồng ý.

“Thuê nhà và chi phí sinh hoạt cũng cần được cân nhắc, nhưng chúng là những thứ thiết yếu cho cuộc sống rồi, tôi không thể trừ chúng đi được. Tôi cần phải giải thích đã chi ra bao nhiêu cho công việc, và báo cáo phần đó. Và tôi làm đúng như thế.”

Có rất nhiều ví dụ có thể nêu ra, nhưng tôi thích ví dụ này hơn.

“Khi khai báo thuế, tôi sẽ khai báo bất cứ thứ gì tôi nghĩ sẽ là chi phí trong văn bản, và gửi nó đi.”

Nitadori nhìn một cách cẩn trọng khi cô nàng nghe lời giải thích của tôi. Có một cuốn sách tôi từng đọc ghi rằng ‘nếu dạy một học sinh xuất sắc, giáo viên sẽ có thêm cảm hứng để giảng bài’. Bây giờ, tôi đang cảm nhận được câu nói đấy.

Người học sinh xuất sắc hỏi,

“Nhưng sensei nè, khi tính toán và giải thích bao nhiêu thuế phải trả, anh phải thêm vào ‘biên nhận’, đúng không ?”

“Đúng. Vì thế, khi tôi mua một thứ gì, tôi luôn phải hỏi biên nhận, và giữ nó.”

‘Bất cứ ai làm việc trong ngành công nghiệp sách đều phải giữ biên nhận !’—một câu nói từ một bài tiểu luận trong quá khứ nêu lên, từ ngày đầu tiên tôi nộp bản thảo tôi luôn phải giữ biên nhận bất cứ khi nào tôi mua thứ gì. Trước tiên, tôi sẽ giữ biên nhận trong ví, và khi về nhà, tôi sẽ cất chúng vào trong một cái hộp lớn.

Nhưng khi làm như vậy, tôi đã bắt đầu trở thành một người chi li tính toán, tôi phải sắp xếp số lượng lớn biên nhận.

Nói cách khác, tôi phải sắp xếp chúng theo thông tin chất liệu, phí xe cộ, và vài thứ khác nữa. Công việc này thật sự tẻ nhạt.

Vì vậy, ngày nay, tôi sử dụng những thư mục nhiều lớp thì hơn. Tôi viết ra những mục kế toán trên những ngăn kéo, và sau đó tôi lấy các hóa đơn từ ví, tôi có thể sắp xếp chúng theo những ngăn kéo tương đương.

Tôi thậm chí còn kiểm tra trên internet về cách nộp thuế,

Và tôi học được hai điều.

Điều thứ nhất là ‘thuế trắng’

Và điều còn lại là ‘thuế xanh’. Quy trình nộp thuế có chút phức tạp, nhưng nó cũng có vài đặc quyền riêng, giảm thuế là thứ có thể kể đến.

Tôi có nghe rằng khi tổng tiền thuế không quá lớn, đơn giản đóng thuế trắng sẽ đủ tốt, và tôi làm như thế.

Thông tin được chuẩn bị sẽ là các mục kế toán, và tính riêng các biên nhận trong các bản sao kê. Nói đơn giản,

“Đâyl à số tiền tôi đã dùng.”

Một cách giải thích cho điều này là, tôi đã dùng phần mềm kiểm toán trên máy tính để tính ra. Nó nghe có vẻ dễ, nhưng để sắp xếp được biên nhận và lấy được các con số chính xác đòi hỏi rất nhiều thời gian.

Tôi chọn ra thông tin, tuân thủ những biên nhận, lấy phiếu lương được cấp từ ASCII Media Works (ở thời điểm này, tôi sẽ nhận một bản báo cáo cho cả năm), và một cái tem, rồi đến phòng thuế.

“Làm vậy có khó không ạ ?”

“Thật ra, nó cũng không hẳn là khó. Tôi chỉ cần làm theo hướng dẫn của ông chú, điền vào từng phần cụ thể, và nó sẽ xong nhanh thôi.”

“Và sau đó... điều gì xảy ra ?”

“Họ nghĩ rằng ‘tôi trả thuế thu nhập quá nhiều’, và đưa tôi một phần tiền từ việc ‘giảm thuế’. Một vài ngày sau, một khoản tiền, không nhỏ đâu, sẽ được chuyển khoản tới tôi.”

“Em hiểu.”

“Tôi có thể đặt nó qua một bên bây giờ. Nhưng sự thật, tôi phải tự mình tìm kiếm mọi thứ, vì thế tôi đã trải qua nhiều rắc rối... nói thẳng thắn, đây là thứ rắc rối nhất đối với tôi sau khi trở thành nhà văn.”

“Nhưng nếu đó là tháng Hai năm ngoái, anh đã báo cáo thuế năm nay rồi, phải không ? Số tiền thu nhập năm nay ấy.”

Tôi gật đầu.

“Em sẽ không hỏi về thu nhập ạ... nhưng nó hình như đang được nâng lên, đúng chứ ?”

Chính xác.

Số tiền thu nhập của tôi năm ngoái—là trên dưới 18 triệu Yên.

Lần tái bản của tập 1 và tập 2, tính luôn cả lần in đầu của tập 3 tới tập 7, đã mang về cho tôi sô tiền 300.000 Yên.

Tôi bắt đầu nghĩ ngợi về câu mà Nitadori đã nói ‘Em sẽ không hỏi về số tiền ạ’.

Phải chăng cô nàng chỉ đang nghĩ ‘nó thật sự thô lỗ khi hỏi tiếp về điều này, thế nên em sẽ không hỏi nữa và anh cũng không cần trả lời’ ? Hay là ‘em không hỏi nữa đâu, anh biết mình cần trả lời điều gì rồi mà’ ?

Tôi uống một ngụm trà, bắt đầu cân nhắc.

Tôi có thể nói cho cô nàng, nhưng tôi không hi vọng rằng cô ấy sẽ nghĩ tôi đang khoe khoang.

Nhưng kể cả như thế, tôi đã đề cập tới thu nhập năm đầu tiên của mình, và cô nàng đã có thể ước lượng ra thu nhập của năm sau sẽ lớn hơn năm trước bao nhiêu.

Tôi phải làm gì ? Tôi phải làm gì ?

Chỉ khi tôi cảm thấy lo lắng,

“Well, ví dụ, nếu thu nhập rơi vào khoảng 18 triệu Yên...”

Tôi có thể nghe thấy giọng Nitadori.

“Eh ?”

“Như vậy số tiền thuế phải trả là bao nhiêu ? Và phần trăm thuế sẽ tăng lên nhiều, đúng chứ ?”

“...Làm sao em biết ?”

“Eh ? Như nào ?”

“Eh ? Thu nhập hằng năm...”

“Ah, ahh, em đoán đúng rồi !?”

Nitadori trông có vẻ một chút ngại ngùng.

“Đúng về điểm này. Tôi đang nghĩ về cách nào cô có thể đoán ra...”

“Well... bộ anime đã được thông báo sẽ khởi động trong tháng Hai, đúng không ?”

Tôi gật đầu.

“Như thế, truyền thông sẽ đưa tin ‘một cuốn sách nổi tiếng đã được bán trên 450.000 bản’ đúng chứ ?”

Tôi gật đầu.

“Trong năm đầu đã bán ra 80.000 bản, và cho tới nay, nó đã lên tới 450.000 bản, nếu trừ đi thì sẽ vẫn còn 370.000 bản. Tuy nhiên, nếu xét riêng về quảng bá, thì đó đã là còn số--”

“Đúng thế, họ sẽ làm một ‘ước tính sơ bộ’ (Kiriyoku).”

"Kiriyoku'?"

“Yeah, nó có nghĩa là họ sẽ tình ra gần đúng con số phát hành ra để mọi người có thể dễ dàng hiểu--”

“Yeah, đúng là nó ! Vì thế em đã dùng 350.000 bản để đếm và tính ra 18.000.000 Yên.”

“Tôi hiểu...”

Khấu trừ nhỏ này thật sự làm tôi bất ngờ, nhưng nếu nó giúp bớt đi chút rắc rối của tôi. Cô ấy đúng thật đã giúp tôi đó.

“Đúng. Tôi đã có chừng đó thu nhập, và tôi phải giải quyết lần đóng thuế thứ hai.”

Nó chỉ vừa xảy ra vào 3 tháng trước.

Đó là lần thứ hai tôi phải đóng thuế, nhưng tôi không muốn dành cả ngày cho công việc này. Nếu tôi có thể lựa chọn thời gian làm việc khác, tôi muốn được dành phút giây này cho việc viết truyện.

Tôi sắp bắt đầu phải đi học lại, và những ngày mà tôi dành tất cả thời gian cho việc viết văn sắp kết thúc.

Vì thế tôi để nó cho một dân chuyên nghiệp.

“Một người chuyên nghiệp ?”

“Người kế toán.”

“Ahh.”

“Thực ra, có hai điểm khác biệt giữa lần đầu vào năm ngoái và lần tiếp theo ở năm nay.”

“Điểm khác biệt thứ nhất chính là việc anh thuê kế toán vào năm nay. Thế còn điểm khác còn lại là gì ạ ?”

“Well, tôi đã đổi sang thuế xanh.”

“Đây đây! Thuế xanh.”

Nitadori kêu lên phấn khích, và sau đấy nghiêng đầu và nói,

“—erm, ý anh là sao ? Sự khác nhau giữa thuế xanh và thuế trắng là gì ạ ?”

“Well, khi khai báo thuế xanh, bạn cần giấy tờ chi tiết hơn. Như thế, nó khó có việc bạn trốn thuế, và tất nhiên, khó để mà né việc đóng thuế hơn.”

Nhưng thậm chí là thế, mọi người sẽ chọn thuế trắng nếu tôi nói vậy, nhưng có rất nhiều đặc quyền được thêm vào cho những người khai báo thuế xanh.

Nó là đặc quyền ‘khiết trừ thuế’. Sự khiết trừ ở đây nghĩa là ‘cắt bỏ’. Khai báo thuế xanh có đặc quyền là cắt bỏ đi một khoản tiền thuế, và tất nhiên, số tiền thuế cần đóng sẽ ít đi.

Bên cạnh đó, một điều quan trọng cần lưu ý nếu mọi người muốn khai báo thuế xanh là, phải xin phép ‘Tôi đang sử dụng thuế xanh’ vào một năm trước. Tôi đã làm vậy khi tôi vẫn đang sử dụng khai báo thuế trắng.

Cuộc trò chuyện kéo dài đã lâu, tôi cảm thấy khát rồi, và Nitadori cũng như thế, bởi vậy chúng tôi uống một chút trà trong chai.

Chúng tôi cùng lúc cầm chai trà của mình lên, uống một ít, và đặt xuống đồng thời, trông như chúng tôi đang diễn vở ballet vậy.

Nhận ra điều này, Nitadori nhìn tôi mỉm cười--

Tôi khựng lại. Tôi không biết nên diễn tả vẻ mặt như thế nào.

Tôi không nên trả lời một cách đơn giản, thậm chí nếu thế nó cũng là một lời nói dối hay là diễn mà thôi, có lẽ tôi nên nói một câu gì đó mang sự đồng cảm.

Mặt tôi ủ rũ, và Nitadori cười rạng rỡ, hỏi tôi,

“Nó tốt chứ nhỉ ?”

Tôi trả lời thật lòng,

“Rất tốt.”

“Tuyệt vời.”

Quay lại việc đã quyết định báo cáo thuế xanh, và mướn kế toán để làm việc đó—

“Bây giờ, tôi sẽ giải thích việc tôi phải làm một cách cụ thể.”

“Yep.”

“Tôi đã nộp rất nhiều giấy tờ. Thế thôi. Tôi nộp tất cả paypals, bản sao sổ tiết kiệm, và chứng minh rằng tôi đã nộp thuế, tôi phải chuẩn bị tất cả danh sách biên nhận cho mọi thể loại.”

“Vậy, kế toán sẽ làm nhiệm vụ đếm biên nhận, điền giấy tờ, và mọi thứ ạ ?”

“Đúng. Nó rất dễ... tất nhiên, tôi sẽ trả phí hợp lí. Nó sẽ đắt đỏ hơn nếu chỉ quăng tất cả cho anh ta và để anh ấy giải quyết mọi thứ. Nếu tôi có thể sắp xếp các vật kiểm toán và tính toán trước khi gửi đi dữ liệu, phí sẽ rẻ hơn nhiều.”

“Em hiểu.”

“Tuy nhiên, các loại chi phí ở đây có thể liệt vào ‘kinh phí’. So sánh với số tiền tôi bỏ ra cho việc thuê kế toán làm điều này, và thời gian tôi dành... tôi đoán dành cho việc nhìn nhận kết quả, tôi nghĩ nó sẽ rẻ hơn rất nhiều nếu để việc này lại cho anh ta. Tất nhiên, điều đó sẽ khác cho việc ‘tôi có thời gian, tôi biết phải làm gì, bởi vậy tôi sẽ tự giải quyết điều này !’.”

Nhà văn lấy lợi nhuận từ phí xuất bản.

Phí xuất bản sẽ được thu thuế trước khi nó chuyển vào tài khoản.

Và thông qua việc khai báo thuế, thuế sẽ giảm đối với phần thuế quá mức thu được.

Đây là phần mà tôi kết thúc việc giải thích.

“Tôi đã nói vài lần trước đó rằng tôi trước đó đã chưa quen thuộc với việc này. Tôi thực tế đã tù mù trong bóng tối, đối phó với mọi thứ.”

“Nhưng ban biên tập đã nói với anh điều này ?”

Nitadori nói điều đó như thể là sự thật—

“Không, họ không nói.”

Tôi lắc đầu.

“Thật ?”

“Ban biên tập không có nghĩa vụ phải nói với tôi quá nhiều... về việc này, họ có thể cũng không am hiểu về nó.”

“Sau đó ?”

“Nhà văn phải tự thân vận động thôi. Thứ có thể giúp tôi thông suốt việc này chính là... hỏi những nhà văn tiền bối.”

Nhìn vào trường hợp của tôi, tôi thực tế còn không có người giúp đỡ trước khi tôi nộp thuế trắng. Bởi vì tôi không quen biết một nhà văn khác nào. Thậm chí tới khi yêu cầu chuyển sang thuế xanh tôi cũng phải tự mình tìm hiểu.

Tuy nhiên, một nhà văn tiền bối đã nói với tôi ‘chỉ cần thuê một kế toán’.

Tôi đã gặp anh ta vài lần, và chúng tôi cũng gặp nhau ở ban biên tập theo thời gian. Tôi thực tế có thể nhìn ra tất cả công việc của anh ta, và tôi thật sự rất vinh dự khi gặp anh ấy.

Sau đó, biên tập viên đưa tôi ra ngoài ăn.

Mỗi khi biên tập viên có thời gian và sắp xếp cho việc gặp gỡ các nhà văn, anh ấy sẽ mời các bên tụ họp trong một bữa tiệc được tổ chức bởi ban biên tập.

Vị trí bữa tiệc ở ‘Kagurazaka’ gần ban biên tập. Tôi nghĩ tôi đã nghe về chỗ này rồi. Nơi này có vài ngôi nhà cổ, và rất nhiều nhà hàng sang trọng.

Tôi rất vui vì ban biên tập sẵn lòng để chúng tôi thưởng thức tất cả món ngon trong nhà hàng. Tất nhiên, tôi không uống.

Trong khi chúng tôi gặp gỡ, tôi đã nói một vài suy nghĩ sâu xa về vài thứ với nhà văn tiền bối kể trên.

Anh ta biết rằng tác phẩm của tôi bán chạy, và anh ấy nói rất kĩ lưỡng về thuế xanh. Anh ta cũng giới thiệu tôi một kế toán mà anh ấy lẫn bạn anh rất tin tưởng, điều đó thực sự giúp tôi nhiều.

Bây giờ, mọi thứ về thuế đã hoàn thành—

Vẫn còn 15 phút nữa mới tới trạm cuối.

Nitadori hỏi tôi đã mấy giờ rồi, và tôi trả lời bằng cách đưa cho cô nàng xem đồng hồ đeo tay của mình.

“Từ giờ, thời gian còn lại không nhiêu, nên em sẽ hỏi vài thứ khác trong tuần kế. Cảm ơn buổi trò chuyện tuần này ạ. Nó rất thú vị.”

“Không có chi.”

Tôi nhớ tuần trước cô nàng cũng nói câu y hệt vậy.

Quay lại vấn đề, tôi sử dụng ít thời gian còn lại để nói về vài lá thư người hâm mộ gửi tới. Cô nàng liệu có câu hỏi nào không nhỉ ? Tôi nghĩ rằng trả lời về điều này sẽ dễ hơn là kể.

Trong dòng suy nghĩ về điều trên, Nitadori cất lời.

“Sensei... em có câu hỏi ạ.”

“Tiếp tục đi.”

Nghĩ rằng nó sẽ dễ dàng hơn cho tôi, nên tôi đã đáp thế,

“Erm... anh nghĩ gì về phần diễn xuất của em tuần trước ạ ?”

Cô nàng đã hỏi một câu mà tôi khó có thể trả lời rồi.

Cô nàng hỏi tôi một cách nghiêm túc, mắt cô nàng nhìn chăm chú vào tôi.

Chắc chắn, tôi trông bối rối đây.

“Ah... không sao, anh không phải ép buộc bản thân mình...”

Nitadori nói một cách chán chường.

“Erm, nếu tôi phải nói ra suy nghĩ của mình--”

Nghe tới đây, Nitadori đưa cặp mắt cận của cô nàng nhìn vào tôi.

Trong trường hợp này, tôi không thể nói dối. Tôi sẽ chỉ nói suy nghĩ thật của mình.

“Nó-nó là gì ạ ?”

“Những diễn viên lồng tiếng tham gia đã thể hiện những màn diễn xuất không thể tin được trước mắt tôi. Shin, Sin, Ema, Pluto, Mitsuka và các nhân vật khác, tôi có cảm giác như họ bước ra thế giới thực vậy.”

Tôi trả lời hết sức rồi đấy.

“...Cả-cảm—cảm ơn anh nhiều lắm !”

Nitadori cảm ơn tôi. Một lần nữa, tôi thành thật nói lên quan điểm của mình.

“Nhưng... thật ra, tôi đã nói câu này một lần khi buổi After Record kết thúc mà.”

“Erm, nhưng, well... lúc ấy còn có người khác nữa, bởi vậy em nghĩ nó chỉ là dịp...”

Nitadori nói, trông có gì rất bẽn lẽn.

“Tôi không giỏi nói dối đâu.”

Cá nhân mà nói, tôi không thể giả tạo được. Ngay khi giây phút tôi nói xong, tôi nhận ra thứ gì đó tôi quan tâm, và tôi chủ động hỏi Nitadori,

“Oh yeah, tôi hỏi điều này được chứ...”

“Được mà, được mà !”

Cô nàng cười rạng rỡ đồng ý, và thế là, tôi nói lên sự bâng khuâng của mình.

“Nitadori—cô bắt đầu diễn xuất khi nào ?”

“...”

Trông thấy vẻ lúng túng của cô nàng, tôi nhận ra rằng mình đã hỏi điều không nên hỏi.

Sau khi nghĩ về điều này những 3 lần, tôi vẫn không thấy câu hỏi này lạ chỗ nào.

Không lâu sau đó, tôi nghĩ rằng cô nàng không biết tôi đang nhắm vào vấn đề gì,

“Erm... ngay sau khi tôi đọc ‘Momotarou’, và khi tôi nghe những câu hỏi từ mọi người trong lớp, tôi nghĩ tôi nghe lỏm được điều—rằng cô đã tham gia câu lạc bộ nhạc kịch ở ngôi trường trước kia...”

“Ah! Ahh! Erm! Đúng ạ! Đúng là nó, ý anh là ?”

Tôi không biết—thứ mà Nitadori đang nhầm lẫn là gì, nhưng nó dường như đã được giải quyết. Với cái nhìn trống rỗng cô nàng bắt đầu di chuyển.

“Đúng ạ ! Em đã từng trong câu lạc bộ nhạc kịch. Em đã nghĩ đó là điều anh ám chỉ khi anh nói tới ‘diễn xuất’.”

Tôi hiểu, vậy ra nó là như thế. Tôi đã hỏi nhầm câu rồi. Đáng ra tôi nên hỏi ‘Cô nàng bắt đầu diễn xuất khi nào’.

“Xin lỗi... Tôi có vẻ đã diễn đạt nó sai rồi. Bên cạnh đó, về việc tôi nghe lỏm cuộc trò chuyện, nó có vẻ... Tôi xin lỗi.”

“Không sao mà ! Em hiểu ! Về câu lạc bộ nhạc kịch đúng không ? Well, anh đừng nghĩ là anh đang nghe trộm chứ. Anh ngồi ngay trước em mà, và sẽ thật kì quặc nếu âm thanh cuộc trò chuyện không lọt vào tai anh. Em đã trả lời tất cả những người khác mà.

Nitadori nói với âm giọng bình thường, và sau đó trả lời câu hỏi duy nhất của tôi,

“Em đã học một ít diễn xuất khi còn ở tiểu học, và sau đó em thật sự học diễn xuất khi vào trung học, trong vòng 3 năm liền, mãi tới khi lên tới cao trung.”

Trong trường hợp đó, cô nàng đã học diễn xuất ít nhất 4 năm. Không còn phải nghi ngờ về khả năng diễn xuất nữa. Tất nhiên, tôi không nghĩ rằng với chỉ sự cố gắng đơn lẻ có thể biến cô nàng trở thành một diễn viên lồng tiếng được. Tôi đoán để đạt được như giờ cô nàng còn cần nhiều sự đào tạo khác nữa cơ.

“Em đã học ở trường quốc tế trong suốt thời gian này.”

Nitadori nói với tôi điều này, nó cũng lí giải tại sao tiếng Anh của cô nàng thật sự thành thạo.

“Giáo viên nhạc kịch khi đó—“

Cô nàng nói bằng giọng thỏ thẻ nhưng đầy niềm vui,

“… đã luôn vui vẻ nói với chúng em một điều trước khi dạy là, “Everyone, transform yourself into someone else! You can be anyone!” (Các em, hãy để bản thân các em hóa thân thành người khác. Các em có thể trở thành bất cứ ai !)”

“Câu đó nói bằng tiếng Anh à ?”

“Dạ.”

Tôi bắt đầu hình dung ra cảnh giáo viên nước ngoài gọi là thầy John hay cô Jeanne vui vẻ nói chuyện với tất cả học sinh. Tôi mù về tiếng Anh, bởi thế khi giáo viên nói tiếng Anh, tôi cần có phụ đề.

Nitadori đứng hạng 7 trong số các học sinh, và ngoại hình cô nàng khác giờ một chút, đó là cô nàng thấp hơn bây giờ thôi. Mái tóc đen dài cùng cặp mắt kính vẫn như giờ.

“Cô ấy là một giáo viên tốt... cô ấy luôn nói ‘alright, time for acting’ (rồi, đã tới giờ diễn xuất)--”

Và đó là cô Jeanne.

“Với em, câu đó như là một phép biến đổi...”

Tôi cảm thấy điều gì không ổn ở đây.

Sau cùng, tôi lập tức nhận ra lí do.

Mỗi khi nói chuyện với tôi, Nitadori đều nhìn thẳng vào mắt tôi.

Điều này có lẽ bởi vì cô nàng là người duy nhất đặt câu hỏi, cô nàng luôn phải giữ phép lịch sự khi nói chuyện với người khác, và điều đó yêu cầu phải nhìn vào mắt người đối diện.

Tôi sẽ bối rối mất thôi, không thể nói chuyện được khi nhìn chằm chằm vào một cô gái dễ thương thế này được.

Vì vậy, tôi đã phải né tránh nhiều lần. Tôi giữ cho cảm giác đôi mắt của Nitadori nhìn vào mình như việc tôi nhìn vào trước ghế vậy, hoặc là nhìn vào đầu gối của mình.

Nhưng Nitadori khác.

Nitadori không nhìn vào tôi.

Cảm thấy không ổn, tôi nhìn Nitadori, và cô nàng không nhìn tôi.

Đôi mắt cô nàng đang nhìn mân mê vào những ngón tay đang đan vào nhau.

“Nó cũng giống như buổi After Record. Mình sẽ lẩm bẩm điều này trong tim mình.”

Tôi nhớ lại đôi môi run rẩy của cô nàng khi đọc kịch bản.

“Ah ! Đúng nó rồi !”

“Mình không thể không thốt ra được.”

“Eh ?”

Nitadori cuối cùng cũng nhìn vào tôi, đôi mắt cô nàng nhìn qua vai.

“Khoảnh khắc đó... như trong ?”

Cô nàng nhìn tôi với vẻ mặt khó hiểu. Như đang bị thẩm tra, tôi trả lời.

“Đó là buổi After Record tuần trước... khi cô đang chuẩn bị lồng tiếng cảnh B, tôi đã thấy Nitadori lẩm bẩm điều gì.”

“Wah ! Xấu hổ quá... em biết rồi mà !”

Không một chút giả vờ nào, mặt cô nàng ửng đỏ, và cô nàng cúi đầu thẹn thùng.

“Em luôn làm điều tương tự vậy mỗi trước khi thu âm... wahh, thật là xấu hổ quá...”

Tôi hiểu rồi. Vậy ra cô nàng luôn làm thế, nhưng thật không ai nhận ra à ?

“Hii...”

Cô nàng tiếp tục khe khẽ. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi thấy Nitadori dường như đúng nhỏ hơn tôi thật.

Trông vẻ đáng yêu của cô nàng, tôi hỏi tiếp

“Nó chắc cũng nói bằng tiếng Anh phải không ? Câu mà cô lẩm bẩm ấy, là gì thế ?”

Nitadori đột nhiên ngước mặt lên nhìn tôi,

“It’s time to play ! (Tới giờ ‘chơi’ rồi !)”

Cô nàng nói lưu loát. Câu nói và giọng điệu của cô nàng y như người bản xứ vậy.

“It’s, time—to, play...”

Tôi lặng lẽ lặp lại câu này bằng thứ tiếng Anh-Nhật lơ lớ.

Tôi không thành thạo tiếng Anh, nhưng tôi luôn tập trung trên lớp.

Bởi thế, tôi nghĩ tôi vẫn có thể hiểu tiếng Anh ở trình độ này, bằng cách nào đó.

Tất nhiên, từ ‘play’ ở đây không phải mang nghĩa ‘chơi game’, mà là mang nghĩa ‘diễn xuất’.

“Em đã lược chữ ‘it’s’, bởi vậy khi em lẩm bẩm nó sẽ là—‘time to play’.

“Time to play...”

“Alright, it's time to act! Come on, everyone, break away from yourself and be someone else. I'm going to become someone else now. Time to play, time to play (Được rồi, tới giờ diễn xuất rồi ! Nhanh nào, tất cả các em, phá vỡ hình tượng bản thân và hóa thân thành ai đi. Cô sẽ trở thành người khác bây giờ. Đến giờ diễn rồi, đến giờ diễn rồi).”

“Tôi hiểu, vây ra tất cả các cô cần phải hóa thân thành ai khác khi diễn xuất ?”

“Yep. Trở thành ai khác. Ai cũng có thể làm được, anh cũng vậy, sensei. Anh có muốn thử không ?”

“Tôi ? Erm...”

Time to play. (Chú thích Poro : Vì có một vài đoạn vốn dĩ câu đó được nhân vật trích dẫn nên mình sẽ để nguyên văn tiếng Anh, vài đoạn mình cũng có để song ngữ.)

Tôi lẩm bẩm những dòng chữ trên trong đầu.

Mình đoán nó không thể với mình rồi, tôi lập tức nghĩ.

Tôi là một nhà văn, tôi viết văn.

Tôi có thể nghĩ ra một thế giới khác, viết về những cuộc đối thoại tưởng tượng.

Nhưng tôi không thể diễn xuất. Tôi không thể làm điều đó.

Bây giờ khi tôi đang phân vân cách giải thích điều này cho Nitadori—

Con tàu bắt đầu phát ra một thông báo hành khách sắp tới ga cuối.

Dừng ở đây thôi, tôi lỡ cơ hội để nói với cô nàng mất tiêu rồi.

truyentranh8.com-0000_(2).jpg